OT2.6.Sodium hydroxide được ứng dụng trong khâu loại bỏ acid béo để tinh chế dầu thực vật,...

Câu hỏi:

OT2.6. Sodium hydroxide được ứng dụng trong khâu loại bỏ acid béo để tinh chế dầu thực vật, động vật trước khi dùng để sản xuất thực phẩm. Magnesium hydroxide là một thành phần phổ biến của các thuốc kháng acid cũng như các thuốc nhuận tràng. Aluminium hydroxide được dùng trong sản xuất gốm sứ, thủy tinh và sản xuất giấy. So sánh tính base của NaOH, Mg(OH)2, Al(OH)3.

Câu trả lời:
Người trả lời: GV. Đỗ Hồng Phương
Cách làm 1:
1. Xác định các thành phần sodium hydroxide (NaOH), magnesium hydroxide (Mg(OH)2), và aluminium hydroxide (Al(OH)3).
2. Tính tính base của từng chất dựa trên độ phân li của hydroxide ion và khả năng tạo phức với proton.
3. So sánh tính base của NaOH, Mg(OH)2, và Al(OH)3 dựa trên kết quả từ bước 2.

Câu trả lời sẽ là: Tính base của NaOH lớn nhất, tiếp theo là Mg(OH)2 và cuối cùng là Al(OH)3.

Cách làm 2:
1. So sánh bảng tuần hoàn của các nguyên tố sodium (Na), magnesium (Mg), và aluminium (Al).
2. Xác định vị trí của các nguyên tố trên bảng tuần hoàn để suy luận về tính chất của hydroxide của từng từng chất.
3. Kết luận về tính base của NaOH, Mg(OH)2, và Al(OH)3 dựa trên sự đặc trưng của từng nguyên tố trong bảng tuần hoàn.

Câu trả lời sẽ là: Tính base của NaOH lớn nhất, tiếp theo là Mg(OH)2 và cuối cùng là Al(OH)3.

Cách làm 3:
1. Xác định cấu trúc phân tử của NaOH, Mg(OH)2, và Al(OH)3.
2. Xem xét độ âm điện của các nguyên tố để dự đoán tính base của các chất.
3. So sánh tính base của NaOH, Mg(OH)2, và Al(OH)3 dựa trên cấu trúc và độ âm điện của các nguyên tố.

Câu trả lời sẽ là: Tính base của NaOH lớn nhất, tiếp theo là Mg(OH)2 và cuối cùng là Al(OH)3.
Bình luận (0)
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
0.08527 sec| 2253.891 kb